Cồng chiêng Tây Nguyên

Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên bao gồm 5 tỉnh Tây Nguyên, tập hợp 17 dân tộc thiểu số Tây Nguyên, văn hóa Cồng chiêng bắt nguồn từ văn minh Đông Sơn cổ đại, nền văn minh được biết đến với tư cách là một nền văn hóa trống đồng nổi tiếng ở Đông Nam Á. Cồng chiêng được người dân tộc thiểu số Tây Nguyên quan niệm như là ngôn ngữ giao tiếp hàng đầu của con người với thần thánh và thế giới siêu nhiên. Những bộ Cồng chiêng của mỗi gia đình xưa kia còn biểu hiện cho sự giàu có của người dân Tây Nguyên.

Cồng, chiêng là loại nhạc khí bằng hợp kim đồng, có khi pha bạc hoặc đồng đen. Theo các nhà nghiên cứu Cồng là loại có núm, chiêng không núm. Các dàn Cồng chiêng thường gồm nhiều bộ. Mỗi bộ có số lượng khác nhau và đảm nhiệm những chức năng riêng trong cuộc hòa tấu. Nhạc cụ Cồng chiêng có nhiều cỡ, đường kính từ 20, 50 đến 60 cm, loại cực đại tới 90cm. Cồng chiêng có thể được dùng đơn lẻ hoặc dùng theo dàn, một có từ 2 đến 12 – 13 chiếc, thậm chí có nơi tới 18 – 20 chiếc. Trong một bộ chiêng có chiêng mẹ (chiêng cái) là quan trọng nhất.

Các dàn Cồng chiêng không chỉ làm nhiệm vụ điểm nhịp, đi tiết tấu hoặc giai điệu một bè mà còn hòa tấu nhạc đa âm. Cồng chiêng có thể được gõ bằng dùi hoặc đấm bằng tay. Có tộc người còn áp dụng kỹ thuật chặn tiếng bằng tay trái… Mỗi bài chiêng có rất nhiều bè, trong đó mỗi cá nhân sẽ dùng một cái chiêng, chiêng có bao nhiêu chiếc thì có bấy nhiêu người đánh. Các nghệ nhân diễn tấu Cồng chiêng nhớ rõ các tiết tấu trong đầu và kết hợp với nhau rất hài hòa. Cách phối hợp âm thanh giữa những chiếc Công chiêng để làm thành thang âm điệu thức là rất đặc biệt.

Người Tây Nguyên có nhiều phong cách chơi Cồng chiêng rất phong phú và bài bản. Người Ba Na và Gia Rai đánh theo phong cách chủ điệu (một bè trầm đánh trên là một vài giai điệu); người Êđê đánh theo cách thức từng chụp hợp âm, nổi tiếp… Ngoài ra còn có phong cách sử dụng chiêng của từng tộc người như người Chăm, Churu hay người Ra-glai, thường chỉ có 5 đến 6 chiêng, số lượng ít hơn so với bộ chiêng của người Gia Rai, Êđê, M’nông.

Người dân Tây Nguyên không chỉ dùng riêng một loại chiêng núm hoặc chiêng bằng, mà thường kết hợp với nhau. Trong đó, chiêng núm làm bè trầm, chiêng bằng đánh giai điệu. Khi biểu diễn vòng tròn, các nghệ nhân đánh và di chuyển dàn Cồng chiêng từ phải qua trái với ý nghĩa ngược chiều với thời gian, hướng về nguồn cội.

Cơ sở khoa học để Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được Tổ chức Giáo dục-Khoa học-Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) công nhận là “Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại” (25/11/2015) vì Cồng chiêng Tây Nguyên đã đáp ứng đủ 6 tiêu chí đề ra:

-        Thứ nhất, Cồng chiêng Tây Nguyên là không gian văn hóa có giá trị nổi bật, thể hiện tài năng đích thực của nghệ nhân trong cộng đồng. Mỗi nghệ nhân là một nốt nhạc riêng tạo nên một bản nhạc phức hợp, giàu bản sắc.

-        Thứ hai, Cồng chiêng Tây Nguyên bắt rễ sâu xa từ phong tục tập quán, truyền thống, lịch sử, văn hóa, nghi lễ-lễ hội của cộng đồng.

-        Thứ ba, Cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện được bản sắc riêng của từng dân tộc, từng cộng đồng. Nó còn là phương tiện giao lưu giữa các dân tộc, làm cho các dân tộc hiểu nhau hơn, xích lại gần nhau trong mối quan hệ cộng đồng.

-        Thứ tư, Cồng chiêng Tây Nguyên là một bí quyết độc đáo của gia đình, dòng họ, được thể hiện ở một trình độ nghệ thuật cao của nghệ thuật âm nhạc truyền khẩu dân gian.

-        Thứ năm, Cồng chiêng Tây Nguyên được coi là một minh chứng độc đáo và truyền thống văn hóa đang còn sống động và tồn tại trong cộng đồng.

-        Thứ sáu, Cồng chiêng Tây Nguyên đang có nguy cơ biến mất do chưa có chính sách bảo vệ thiết thực, hoặc do quá trình giao lưu văn hóa, quá trình đô thị hóa thay đổi xã hội quá nhanh.

Tiêu đề
 
Email
   
Nội dung
 
Số ký tự còn lại: 500 ký tự.
Đăng bình luận

[Các tin cùng chuyên mục]

[Các tin khác chuyên mục]

Facebook Du lịch sinh thái bản đôn